Đạo của trà Việt nằm trong tâm thế của người pha và người thưởng thức

Đạo của trà Việt, hình như không hoàn toàn nằm ở cái tinh vi, cầu kỳ, mà nằm ở cái tâm, cái thế của người pha, cũng như người thưởng thức... 

Thế nhân vẫn bảo, để trà đạt đến “đạo”, nhất thiết phải có lí luận về trà. Trung Hoa có cả kho sách về trà, và chỉ riêng “Trà Kinh” của Lục Vũ đời Đường cũng đã đủ minh chứng cho nền văn hóa trà của đất nước này. Còn Nhật Bản nâng thưởng trà thành đạo, "qua mặt" Trung Hoa về "kho" lí luận về trà, từ trà cụ, trà phong, trà thất...

Đạo của trà Việt nằm trong tâm thế của người pha và người thưởng thức.

Ngẫm đi cũng phải ngẫm lại rằng, trong Vũ trung tùy bút, cụ Phạm Đình Hổ chả nói rằng, thời ông sống, quãng hai trăm năm về trước, cách thưởng trà của người Việt đã cầu kỳ lắm. Riêng về trà cụ, có gia đình sẵn sàng bỏ cả mấy chục lạng bạc mua cho được những bộ ấm quý. Nhà văn của Làng Mọc Nguyễn Tuân, trong một tác phẩm trước những năm 1945 lại kể rằng: Có kẻ ăn mày ghé vào một gia đình giàu có, nhưng hắn không xin cơm, mà xin một ấm trà. Khi uống xong, kẻ hạ tiện cả gan chê trà của nhà quyền quý không ngon. Gia đình quyền quý vốn tự hào về sành trà cả giận, nhưng rồi đã giật nảy mình về khả năng thưởng trà của kẻ ăn mày, khi biết trong trà của mình không hiểu sao lẫn vài vụn trấu! 



Không chỉ những tác phẩm văn học, mà trong sống thường nhật, trà vẫn tồn tại những nét thi vị, mà đáng kể nhất là những nghệ nhân ướp trà đất Hà thành. Họ đã chắt hương của ngàn bông hoa thành những chén trà mang hương của bốn mùa như sen, nhài, sói, mộc… Như thế, cách chế trà, cách thưởng trà của người Việt, tưởng cũng đạt đến độ cao siêu lắm…

Nhưng chừng ấy vẫn chưa thể giải thích cho câu hỏi, có hay không trà đạo Việt Nam. Gần đây, ở nhiều thành phố đã xuất hiện các quán trà trương biển "trà đạo Việt Nam". Bước vào quán trà ấy, trong những không gian được sắp đặt giả cách phương Đông, hắn bắt gặp đủ loại trà với những tên gọi hoa mỹ. Ví như trà Vọng nguyệt, Tịnh tâm, rồi Trà quân tử, la hán... Các cô tiếp viên trong nửa Việt nửa Tàu, bưng lên những ấm trà và cách giới thiệu nửa Nhật, nửa Tàu, lại có cả chất Việt nữa...

Không lẽ "đạo" mà lại thế ư?... Đạo của trà Việt hẳn không phải là nghi thức tựa như nghi thức tôn giáo như của người Nhật Bản, và lại càng không phải ở cái cách thức pha, mà mỗi "chiêu" lại có một câu "họa" bắt chước người Tàu, như kiểu "tam long giá ngọc", hay "cao sơn trường thủy" như người phục vụ ở một số quán trà vẫn thường "diễn".

Nghĩ về đạo của trà Việt, không thể không nghĩ đến tâm hồn người Việt, người Việt không ưa lý luận, biện bác. Phải chăng, vì tâm hồn người Việt vốn bình dị, chân chất, nên người Việt không có truyền kỳ về trà? Có người nói, nghệ thuật ướp trà hương của người Việt là một tuyệt kỹ, khi nghệ thuật ấy gặp được người thưởng trà biết trân quý - đó là đạo...

Lại có một câu chuyện kể rằng, khách đến viếng một trà thất, chủ tiếp đón theo nghi phong trà đạo, còn khách thì lại cứ rót uống tự nhiên không theo luật lệ nào cả. Chủ thuyết trình về trà đạo, về cách pha và phong thái uống trà… Nghe xong khách nói: “À thì ra trà đạo là vậy. Tôi lại tưởng đạo trà là khát thì uống thôi chứ”...
>

Trà đạo là một bộ môn nghệ thuật truyền thống của Nhật

Trà đạo là một bộ môn nghệ thuật truyền thống của Nhật. Trà đạo Nhật bản đòi hỏi sự tinh túy cũng như sự kiên nhẫn rất cao của người pha trà.

1. Lịch sử trà đạo

Trà đạo được xem như là một điển hình văn hóa trà cổ xưa của Nhật Bản, được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ XII. Theo truyền thuyết Nhật, ngày đó có vị cao tăng người Nhật là Eisai (1141-1215) đi du học và mang về từ Hồng Kông một loại bột trà xanh được gọi là matcha. Lúc đầu matcha chỉ được dùng như một loại thuốc nhưng sau đó trở thành một thức uống xa hoa mà chỉ giới thượng lưu mới được sử dụng và thưởng thức trong các buổi họp mặt. Thời gian này, một số quy tắc của một buổi tiệc trà đã được quy định bởi giới võ sĩ (samurai), giai cấp thống trị xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ. 



Nhà sư Sen no Rikyu (1522-1591), một trong những thương gia giàu có nhất thời đó đã kế thừa, sáng lập và hoàn thiện lễ nghi của một buổi tiệc trà. Đến cuối thời Edo (1603-1868) thưởng thức trà đạo là đặc quyền của nam giới. Cho đến đầu thời Meiji (1868-1912) thì phụ nữ mới chính thức được tham dự tiệc trà. Từ đó, công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà. Họ đã kết hợp thú uống trà với tính Thiền của Phật giáo để nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà, phát triển nghệ thuật này trở thành trà đạo, một sản phẩm đặc sắc thuần Nhật.

2. Nghệ thuật trà đạo

Phòng trà được bày biện rất đơn giản nhưng khách có thể cảm nhận được nét đẹp nhẹ nhàng, thanh tao, không khí ấm áp, thể hiện sự mến khách của chủ nhà. Khi khách đến, sẽ được đưa qua một dãy phòng dẫn để đến phòng đợi. Ở đây, sau khi được phục vụ một tách nước nóng, khách được đưa ra khu vườn dẫn đến phòng trà. Vườn trong khuôn viên của phòng trà mang nét độc đáo riêng biệt của trà đạo, mỗi thứ trong vườn đều mang một biểu tượng riêng đem lại cảm giác thanh bình, yên ả. Tại đây, khách dừng lại dùng vòi nước có sẵn trong vườn để rửa tay trước khi vào phòng trà. Chủ nhà trong bộ Kimono truyền thống cúi mình tiếp đón khách một cách nhẹ nhàng và lịch sự ngay ngưỡng cửa của phòng trà. Lối vào phòng trà thường bao giờ cũng thấp khiến mọi người đều phải cúi mình để đi, tượng trưng sự cung kính và khiêm tốn.



Trong phòng trà, trên tường người ta thường treo những bức thư pháp, những chiếc quạt giấy kiểu Nhật, những bức tranh thủy mặc và có cả những bình hoa được cắm vào những lọ hoa bằng gỗ hoặc bằng tre biểu hiện sự chào đón của chủ nhà với khách. Phòng trà không có ghế ngồi mà chỉ có chiếc bàn thấp, cao khoảng 30cm. Người uống trà phải xếp bằng trên “Tọa cụ”, đây là loại nệm ngồi mà những người tọa thiền thường sử dụng. Trên bàn đặt một cái đèn giấy kiểu Nhật chỉ đủ tỏa ánh sáng vừa đủ cho bàn trà. “Trà cụ” được bày ra trên bàn gồm có: Ấm, chén, bình đựng trà, bình chuyên, bình hãm trà, bếp lò than, nồi châm trà, gáo pha trà, đồ gạt trà.
Tiệc trà chính

Những buổi tiệc trà lớn thường kéo dài hơn 4 tiếng đồng hồ, trước tiệc trà, khách được phục vụ một chiếc bánh ngọt xinh xắn có hình dạng và màu sắc tùy theo từng dịp lễ hay theo mùa, chẳng hạn như hình lá momiji (một loại lá đỏ vào mùa thu), hay hình hoa sakura (hoa anh đào vào mùa xuân). Trong thời gian này, chủ nhà tiến hành các bước pha trà.

Trước hết, phải đun nước bằng bếp lò than, sau khi nhận biết nước trong nồi đun vừa đủ độ nóng thích hợp để pha trà (khoảng 600C), bằng động tác thuần thục, họ mới bắt đầu tráng ấm chén, rồi bỏ trà vào ấm. Sau đó, họ nhẹ nhàng dùng chiếc gáo bằng gỗ múc nước trong nồi đun chế vào ấm trà. Sau khi hãm trà trong vài phút để trà được hòa vào nước mà vẫn giữ nguyên hương vị của nó, họ cẩn thật rót vào bình chuyên, rồi từ bình chuyên mới châm trà vào chén. Việc cuối cùng là đặt những chén trà lên bàn, mời khách dùng trà với một cung cách lễ phép.

Cách thức uống trà của khách cũng được quy định nghiêm ngặt. Trước khi uống, khách để hai tay xuống sàn nhà, cúi đầu chào mọi người, rồi cung kính nâng chén trà lên xoay chén ba lần theo hướng kim đồng hồ, sau đó từ từ uống. Khi uống xong, khách lại xoay chén theo hướng ngược lại về chỗ cũ rồi nhẹ nhàng đặt chén xuống. Ngụm cuối cùng, khách thưởng thức trà nên có kèm theo một tiếng “khà” nho nhỏ để biểu thị sự tán tưởng, khen ngợi. Khi tất cả đã uống xong, người khách lại cúi mình chào một cách kính cẩn rồi mới ra về.

3. Trà đạo và cuộc sống người Nhật

Với người Nhật, trà đạo là một hình thức uống trà để giải trí trong một bầu không gian tĩnh lặng, mà cả người chủ lẫn khách đều hướng đến sự thư giãn tinh thần và sự hòa hợp với thiên nhiên. Tinh thần của trà đạo được biết đến qua bốn chữ “Hòa, kính, thanh, tịch”. “Hòa” có nghĩa là sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, sự hòa hợp giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà. “Kính” là lòng kính trọng, sự tôn kính đối với người khác, thể hiện sự tri ân cuộc sống. Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh, thể hiện sự thanh tịnh, đó chính là ý nghĩa của chữ “thanh”. “Tịch” có nghĩa là sự vắng lặng, tĩnh lặng mang đến cho con người giảm giác yên tĩnh, vắng vẻ.



Qua nghi lễ của một buổi tiệc trà cũng như ý nghĩa, nét đặc sắc của trà đạo Nhật Bản, chúng ta có thể nhận biết thêm một số nét đặc trưng của nền văn hóa Nhật Bản cũng như tính cách của họ. Mỗi người trong quá trình học hỏi, luyện tập và thưởng thức các bước của một buổi tiệc trà đều phải tỏ ra rất cung kính, lễ nghi như cúi gập mình khi chào hỏi, lễ phép, khiêm nhường khi nói chuyện. Thêm vào đó, họ còn học được tính cẩn thận, tỉ mỉ, nhẹ nhàng, khéo léo và ngăn nắp khi thực hiện từng hành động trong một chuỗi thaotác nhỏ của một buổi tiệc trà. Vì thế, việc học trà đạo cũng như khiếu thẩm mỹ, sự cảm nhận nghệ thuật trong cách thưởng trà, ngoài việc thư giãn tinh thần còn có ý nghĩa giáo dục rất cao.
>

Pha trà Ô Long với ấm tử sa mới là hoàn hảo

Trà ô long vốn đã được coi là một loại trà quý tộc, vì từ giống cây, cách trồng, cách chăm sóc, thu hái cho đến cách chế biến trà ô long với ấm tử sa đều phải tuân thủ theo một quy trình rất nghiêm ngặt. Từ lúc hái búp trà tươi xuống, phải mất đến hơn 48 tiếng liên tục chế biến qua rất nhiều công đoạn mới cho ra được một mẻ trà ô long ngon đạt chất lượng. Kì công là thế, nhưng đã có tra ô long ngon rồi mà cách pha trà ô long không đúng cũng làm giảm đáng kể cái ngon của trà ô long. Nên hôm nay Trà Tân Long sẽ hướng dẫn bạn làm sao pha được một ấm trà ô longTân Long ngon nhất .

Bước 1: Chuẩn bị trà ô long và dụng cụ pha trà.

Trà oolong ngon thì hình thức phải đạt được như sau viên trà tròn, mịn, ít trơ cọng, có màu xanh. Các viên trà phải thật tròn đều, không có hoặc rất ít vụn. Khi bạn ngửi hương trà ô long khô có mùi thơm ngọt, phảng phất mùi quế nếu là trà ô long Tứ Quý, có chút mùi sữa rất thanh nếu là trà ô long Kim Tuyên (mùi sữa chỉ thoang thoảng rất nhẹ) 



Dụng cụ pha trà: trà cụ (thông ấm, thẻ múc trà, kẹp chén, , gạt trà, phễu lọc), ấm pha trà, chén tống, chén quân, ống ngửi hương trà.

Bước 2: Làm nóng ấm và chén trà ô long.

Trước khi chúng ta pha trà oolong nên dùng nước sôi tráng hết toàn bộ trà cụ. Thao tác này giúp ấm trà giữ nhiệt khi chúng ta pha trà , làm cho trà ô long mau chín hơn và giữ hương trà tốt, vừa giúp vệ sinh được ấm chén trước khi pha trà.

Bước 3: Đánh thức trà oolong.

Dùng thẻ đong trà ô long vào ấm. Thường thì lượng trà trung bình cho 100ml nước là 4g. Cụ thể hơn cho các cách uống trà là: độc ẩm (1 người uống): 2-3 gram cho 1 ấm. Đối ẩm (2 người): 4-5 gram cho 1 ấm. Còn với 4 người uống thì cần 6-7 gram trà .Và cũng tùy vào khẩu vị của người thưởng thức

Đổ nước xấp mặt trà, xoay đều ấm và đổ nước đi. Thao tác này đánh thức các sợi trà để trà pha được dậy hương và ngon hơn và cũng là để bỏ đi các bụi bẩn bám vào trà.

Bước 4: Pha trà ô long.

Châm nước nóng 100 độ vào ấm trà oolong. Lượng nước nên phù hợp với số lượng ngừơi uống, tránh đổ nước nhiều quá làm trà bị nhạt không toát được đúng vị của tra o long.



Sau đó chúng ta tưới nước sôi lên nắp ấm để làm nóng ấm từ phía bên ngoài, đồng thời sẽ tạo thành một dzoăng nước che kín phần mép của nắp ấm, làm cho trà không bị mất hương và mau ra trà.

Đợi khoảng 30 – 45 giây cho trà ô long chín. Sau đó rót toàn bộ trà ô long từ ấm vào chén tống.

Bước 5: Mời thưởng trà ô long.

Rót trà từ chén tống tuần tự rót vào ống ngửi. Lấy chén trà úp lên miệng ống ngửi, sau đó lật ngược lại để trà từ ống ngửi tràn sang chén quân. Lúc này ống ngửi sẽ lưu hương, chén quân sẽ lưu vị. Dùng 2 tay kẹp lấy ống ngửi, đưa qua lại ngang mũi trong khi lăn chén giữa 2 tay để thưởng thức hương trà ô long. Khi uống trà oolong, cầm chén quân bằng 3 ngón tay được gọi là tam long giá ngọc và mời khách thưởng thức chén trà

Bước 6: Thưởng trà oolong

Để chén trà ô long trên lòng bàn tay để cảm nhận hơi nóng từ chén trà, một hình ảnh như bông sen trên mặt hồ, ngắm nhìn chén trà để cảm nhận vẻ đẹp và tinh thần của trà.

Một tay cầm chén trà, một tay đỡ chén trà, đưa nhẹ ngang qua mũi để thưởng hương trà.

>

Các loại đất thường hay được sử dụng trong sản xuất ấm tử sa

Thuật ngữ Đất sét (clay) chắc hẳn không xa lạ với chúng ta, nó được dùng để miêu tả một loại đất rất giàu khoáng chất với thành phần chính là oxit và silic. Nghi Hưng (Yee zhing) thuộc tỉnh Giang Tô (Jiangsu) của Trung Quốc không phải là nơi khởi nguồn của đất sét nhưng ở đây lại có một loại đất sét rất đặc biệt và nổi tiếng mà ta vẫn hay gọi là đất Tử sa (Zhisa). Nghi Hưng cũng một là cái nôi tạo ra những chiếc ấm tử sa tốt nhất và đẹp nhất. Đất sét Nghi Hưng có rất nhiều loại khác nhau, tuy nhiên ta có thể chia thành 2 nhóm lớn sau:

• Đất sét thường (Earth Clay): là loại đất được sử dụng một cách phổ biến để tạo ra các sản phẩm gốm thông dụng trong đó có ấm trà (loại đất này ở các làng gốm của Việt Nam cũng có, tuy có thể khác một chút về thành phần cấu tạo)



• Đất sét đá (Stone Clay): loại đất mà ta vẫn thường gọi là đất Tử sa (Zhisa, Zini hay Purple Clay) và là loại đất đặc biệt chỉ ở vùng Nghi Hưng mới có và được dùng để sản xuất Ấm Tử Sa .
Tử sa là thuật ngữ dùng để miêu tả loại đất sét có sắc độ tím (purple), và ngoài ra ở Nghi Hưng còn rất nhiều loại đất có sắc độ khác nhau như: đỏ (zhu ni, hong ni), xanh lục (lu ni), vàng (duan ni), v.v… Tuy nhiên trên thực tế Tử sa đã trở thành một thuật ngữ chung để chỉ loại đất sét có xuất xứ từ ấm tử sa Nghi Hưng

Như đã biết, đất sét Nghi Hưng (Stone Clay) là loại đất có cấu trúc và thành phần cấu tạo gồm oxit sắt, silic, mica, kaolinite cùng nhiều khoáng chất khác trong đó oxit sắt là thành phần chủ yếu. Chính nhờ thành phần cấu tạo đặc biệt này mà những chiếc ấm trà từ Nghi Hưng luôn có những ưu điểm rất tuyệt vời như: chịu được nhiệt rất cao (>1000C), giữ được trọn vẹn hương vị của trà, dù trà để rất lâu trong ấm sau khi đã sử dụng xong nhưng vẫn ko bị mốc hoặc thiu, v.v…
Chất lượng đất tử sa ở Nghi Hưng (Stone Clay)

Về cơ bản chất lượng đất sét sử dụng để làm ấm được chia thành 3 loại như sau:

• Đất sét nguyên khoáng (Original, Natural): đây là loại đất tự nhiên được khai thác trực tiếp từ các mỏ núi đá ở Nghi Hưng và là loại đất có chất lượng tốt nhất để làm ấm. Nhưng do khai thác quá nhiều nên hiện nay số lượng đất nguyên khoáng còn lại không nhiều và ngày càng trở nên khan hiếm



• Đất phối (Mixed): đây là loại đất được tạo ra bằng cách phối đất nguyên khoáng với nhau, hoặc phối đất nguyên khoáng với một vài nguyên liệu tự nhiên khác (nguyên liệu tự nhiên chủ yếu được sử dụng để phối là cát vì nó có tính chất và thành phần cấu tạo tương đương). Đất phối được tạo ra với mục đích chính là tận dụng đất nguyên khoáng vì như trên đã nói đất nguyên khoáng ngày càng hiếm

• Đất nhân tạo (Artificial): đây là loại đất được tạo ra bằng cách phối thêm một số thành phần hoá học khác vào đất (có thể là đất sét hoặc đất bùn) để tạo ra một chất liệu mới, hiện nay loại đất này được sử dụng rất nhiều để tạo ra những chiếc ấm mới với màu sắc đa dạng và bắt mắt nhưng chất lượng đất thì không thể tốt được bằng đất nguyên khoáng.

>

ẤM TỬ SA

Tìm kiếm Blog này

Được tạo bởi Blogger.

Lưu trữ Blog

Đạo của trà Việt nằm trong tâm thế của người pha và người thưởng thức

Đạo của trà Việt, hình như không hoàn toàn nằm ở cái tinh vi, cầu kỳ, mà nằm ở cái tâm, cái thế của người pha, cũng như người thưởng thức.....